Cổng Thông Tin Đại Học, Cao Đẳng Lớn Nhất Việt Nam

Sa dây rốn là gì? Mức độ nguy hiểm của sa dây rốn

THÔNG TIN CHI TIẾT VỀ TUYỂN SINH TRƯỜNG CHUẨN VÀ CHÍNH XÁC NHẤT CÁC BẠN CHỈ CẦN XEM PHẦN BÊN DƯỚI ĐÂY CÓ GÌ THẮC MẮC CÁC BẠN HÃY BÌNH LUẬN

1, Sa dây rốn là gì?

  Sa dây rốn khi màng ối bị vỡ , dây rốn sa xuống dưới phần trình bày của thai nhi, đi vào âm đạo qua cổ tử cung, thậm chí lộ âm hộ qua âm đạo. Sa dây rốn (sa dây rốn) hay còn gọi là sa dây rốn lõm, dùng để chỉ sự hiện diện của dây rốn ở phía trước hoặc bên cạnh của thai nhi khi màng ối chưa vỡ. 

Sa dây rốn
Sa dây rốn nếu không được xử lý kịp thời có thể đe dọa tính mạng thai nhi

Tỷ lệ mắc bệnh là 0,4% đến 10%. Sa dây rốn cực kỳ nguy hại cho thai nhi, do dây rốn bị ép giữa sa mạc và thành chậu trong quá trình co thắt, làm cho quá trình lưu thông máu của dây rốn bị tắc nghẽn, thai nhi bị thiếu oxy và xảy ra tình trạng suy tử cung nghiêm trọng như tắc nghẽn hoàn toàn dòng máu. 7 ~ 8 phút, thai nhi sẽ nhanh chóng bị ngạt và chết

2, Nguyên nhân sa dây rốn như thế nào?

  (1) Nguyên nhân gây bệnh: Sa dây rốn có thể xảy ra nếu phần trình bày của thai nhi và mặt phẳng vào của khung chậu không thể kết nối chặt chẽ với nhau, đồng thời có khoảng cách giữa hai phần này. Những lý do chính là:

  1. Ngôi thai bất thường là lý do chính dẫn đến sa dây rốn. Theo thống kê, cứ 25 trường hợp thì xảy ra khoảng 500 trường hợp nằm đầu (chỉ chiếm 0,2%), và cứ 25 trường hợp thì xảy ra 1 trường hợp (chiếm 4%). 

Có 1 trường hợp (14%). Tỷ lệ sa dây rốn ở các vị trí đầu, ngôi mông, ngôi ngang vào khoảng 1:20:70 Có thể thấy giữa sa dây rốn và biểu hiện bất thường có mối liên hệ mật thiết. 

Ngôi mông chủ yếu xảy ra ở trường hợp chân, trong khi trường hợp ngôi mông đơn thường có thể kết nối chặt chẽ với khoang chậu, và hiếm khi xảy ra sa dây rốn. 

Sự trình bày đầu bất thường hoặc hình thành hợp chất ở vị trí sau chẩm và vị trí mặt thường không lấp đầy hoàn toàn lối vào của khung chậu. Đầu thai nhi không kết nối cho đến khi màng ối bị vỡ, dễ gây sa dây rốn.

  2. Khung chậu nổi hoặc thai nhi phát triển quá mức, thai không tương thích với đường vào của khung chậu ( không cân xứng ), mẹ hoặc thai giãn thành bụng thường là chuyển dạ vẫn còn cao sau khi bắt đầu nổi, vỡ ối , đa ối. Xung động có thể làm dây rốn sa ra ngoài.

 Đặc biệt khung chậu phẳng , thường có khe hở giữa phần nhô ra và lối vào của khung chậu, đầu thai nhi khó chui vào khung chậu, ối vỡ sớm dễ gây sa dây rốn.

  3. Dây rốn quá dài hoặc bánh nhau bám thấp (hoặc dính mép của dây rốn), nếu phần nhô ra tương xứng với khung chậu thì độ dài của dây rốn không phải là nguyên nhân chính dẫn đến sa dây rốn, mà là khi không nối được đầu thai nhi tức là dây rốn quá dài. 

Theo thống kê, cứ 10 trường hợp sa dây rốn thì có 1 trường hợp có dây rốn dài hơn 75cm. Những người có dây rốn dài hơn 75cm có nguy cơ bị sa cao gấp 10 lần so với những người có chiều dài dây rốn bình thường (50-55cm).

  4. Sinh non hoặc song thai: Trường hợp sau này có khả năng xảy ra trước khi sinh thai thứ hai, có thể liên quan đến việc thai nhi quá nhỏ, hình thái của thai nhi không thể kết nối chặt chẽ với lối vào của khung chậu hoặc tỷ lệ ngôi thai bất thường cao .

  5. Một số khác như vỡ ối sớm và nước ối quá nhiều . Trường hợp sau này, khi màng thai bị vỡ, do áp suất trong khoang tử cung cao, nước ối chảy ra ngoài quá nhanh, dây rốn có thể bị nước ối cuốn ra ngoài tạo thành sa dây rốn.

  (2) Các yếu tố bệnh sinh ảnh hưởng đến sự kết nối của việc trình bày trước khi chuyển dạ và gây ra nhiều khoảng cách hơn giữa sự xuất hiện của thai nhi và lối vào của khung chậu, có thể gây sa dây rốn, chẳng hạn như tư thế ngôi mông, ngôi ngang, hẹp khung chậu, đầu và khung chậu không cân xứng.

Thai nhi còn nhỏ và như vậy. Ngoài ra còn có một số yếu tố góp phần như vỡ ối sớm, sa dây rốn và quá nhiều nước ối. Khả năng bị sa dây rốn khi chiều dài dây rốn vượt quá 75cm gấp 10 lần người bình thường. 

Khi nước ối quá nhiều, áp lực trong khoang ối cao, dây rốn dễ bị sa ra ngoài khi màng ối bị vỡ. 

3, Các triệu chứng của sa dây rốn là gì?

  Các triệu chứng thường gặp: dây rốn ngắn, dây rốn quấn cổ, suy thai, vỡ ối, ngôi thai bất thường, ngôi thai bất thường, nhịp tim thai bất thường, xương chậu mất cân đối.

Sa dây rốn
Dây rốn sẽ bị chèn ép giữa phần hiện của thai và khung chậu, gây ra tình trạng thiếu oxy

  Các biểu hiện lâm sàng của sa hoặc sa dây rốn ít ảnh hưởng đến sản phụ mà chỉ làm tăng sản lượng phẫu thuật. Nó rất có hại cho thai nhi. Dây rốn hiện hay sa, phần thai chưa vào khung chậu, màng thai chưa vỡ mà chỉ trong lúc co thắt, phần hiện của thai buộc phải tụt xuống, dây rốn có thể bị chèn ép tạm thời gây nhịp tim thai bất thường. 

Nếu phần hiện của thai nhi đã lọt vào khung chậu và màng thai bị vỡ, dây rốn sẽ bị chèn ép giữa phần hiện của thai và khung chậu, gây ra tình trạng thiếu oxy, và nhịp tim của thai nhi phải thay đổi hoặc thậm chí biến mất hoàn toàn. 

Nặng thì phơi vai là nhẹ nhất. Nếu sự lưu thông máu ở cuống rốn bị tắc nghẽn trong thời gian ít hơn 7 đến 8 phút, thai nhi sẽ chết trong tử cung .

  Chẩn đoán Theo mối liên hệ giữa vỡ ối với sự thay đổi của tiếng tim thai và khám âm đạo, sa dây rốn không khó chẩn đoán, nhưng mấu chốt là phải có ấn tượng lúc thường, đặc biệt phải chú ý đến sa ẩn. Ngoài ra, còn phải xác định tình trạng ngôi thai, vị trí ngôi thai, mức độ hở của tử cung để giải cứu.

  ① Vị trí thai nhi không đúng . Trong trường hợp khung chậu hẹp hoặc đẻ non , nếu nhịp tim thai thay đổi sau khi vỡ màng ối, cần nghĩ đến khả năng sa dây rốn hoặc sa dây rốn, cần khám âm đạo ngay. 

Hoặc tuy không bị vỡ màng ối nhưng nhịp tim thai đã thay đổi, khám âm đạo, sờ thấy dây rốn ở túi ối trước thì thấy có mạch đập, tần số giống nhịp tim thai. Xác định các phụ kiện giống như cánh buồm (dây rốn là dây có thể di chuyển được).

  ②Khi màng thai bị vỡ và thai còn sống, việc chẩn đoán sa dây rốn sẽ dễ dàng hơn, vì có thể sờ thấy rõ dây rốn rung ở phía trước bộ phận hiện tại. 

Nhịp dây rốn có thể biến mất do bị chèn ép nhưng không thể dùng để chẩn đoán thai đã chết, đồng thời cần nghe kỹ âm tim thai, nếu âm tim thai biến mất thì có thể khẳng định thai chết lưu.

  ③ Sa dây rốn thụt vào trong, thậm chí khám âm đạo thường không được chẩn đoán rõ ràng kịp thời. Vì vậy, nó không nên quá ngắn với dây rốn hoặc quanh cổDây rốn sau tương đối ngắn. 

Trường hợp sau này, dây rốn quá ngắn trong các cơn co thắt thường kéo đầu thai nhi, khó tụt xuống, kéo dài quá trình sinh và làm đầu thai nhi chậm lại. 

Nói chung, các triệu chứng lâm sàng của suy thai chỉ xuất hiện sau khi phần hiện đã xuống khoang chậu trong giai đoạn cuối của cuộc chuyển dạ , và các triệu chứng lâm sàng của sa dây rốn lặn hầu hết ở giai đoạn đầu của cuộc đẻ , sau khi màng ối bị vỡ.

  ④ Sau khi chẩn đoán sa dây rốn qua khám âm đạo, lỗ tử cung giãn, mức độ sa đầu của thai nhi và có mất cân đối vùng chậu hay không , cần kiểm tra đồng thời vị trí thai hoặc ngôi thai để quyết định phương án điều trị.

  Theo mức độ sa của dây rốn và màng thai có bị vỡ hay không, người ta chia nó thành 3 loại: membranes ối vỡ , dây rốn tuột ra khỏi lỗ tử cung trước lần tiếp xúc đầu tiên và rơi xuống âm đạo hoặc thậm chí là âm hộ, gọi là sa dây rốn; 

Bị đứt, nơi dây rốn nằm ở bên cạnh của bộ phận trình bày, kẹp giữa bộ phận này và mô mềm của phần dưới tử cung, không thể sờ thấy bằng cách kiểm tra tổng quát, nó được gọi là sa dây rốn lõm; 

Dây rốn bị sa xuống hiện tại trước khi màng thai bị vỡ Phần trước của dây rốn được cho là lộ ra, nếu túi ối phía trước nhô ra thì có thể dây rốn đã nhô ra khỏi miệng tử cung (Hình 2).

4, Các hạng mục kiểm tra sa dây rốn là gì?

  Kiểm tra các mục: Điện tâm đồ, phân thường, theo dõi nhịp tim thai

  Khi có nguyên nhân gây sa dây rốn, cần lưu ý xem có bị sa dây rốn hay không. Nếu màng thai chưa vỡ, nhịp tim thai đột ngột chậm lại sau khi thai cử động và co bóp, nếu thay đổi tư thế, rặn đẻ để lộ và nâng mông thì nên nghĩ đến khả năng sa dây rốn, và nên thực hiện sau khi sinh. 

Theo dõi nhịp tim thai nhi. Chọn xét nghiệm máu, nước tiểu, phân, xét nghiệm sinh hóa, điện tâm đồ, siêu âm B, Doppler và các xét nghiệm khác tùy theo tình trạng bệnh.

5, Làm thế nào để phân biệt và chẩn đoán sa dây rốn?

  Khi có nguyên nhân gây sa dây rốn, cần lưu ý xem có bị sa dây rốn hay không. Nếu màng thai chưa vỡ, nhịp tim thai đột ngột chậm lại sau khi thai chuyển động và co bóp, nếu thay đổi tư thế, rặn đẻ để lộ và nâng mông lên và phục hồi nhanh thì nên nghĩ đến khả năng sa dây rốn ẩn. 

Sa dây rốn
Siêu âm có thể phát hiện ra tình trạng bệnh

Theo dõi nhịp tim thai nhi. Các phương pháp theo dõi có thể được xác định tùy theo điều kiện. Có thể sử dụng máy theo dõi thai nhi, siêu âm Doppler hoặc ống nghe để theo dõi nhịp tim của thai nhi trong khi sinh và theo dõi sinh lý thai nhi có thể được sử dụng để hiểu tình trạng của thai nhi. 

Siêu âm chế độ B có thể được sử dụng để xác định vị trí của dây rốn. , Màn hình hiển thị sẽ rõ ràng hơn với đầu dò âm đạo. Nếu màng đã bị vỡ, hãy cảnh giác hơn. 

Khi thấy nhịp tim thai bất thường, cần khám âm đạo ngay, chú ý xem có sa dây rốn không và mạch máu dây rốn có rung không, dùng lực chạm vào để tránh làm chậm thời gian điều trị và tăng chèn ép mạch máu dây rốn . 

Nếu dây rốn được chạm vào bên cạnh hoặc bên dưới phần lộ ra ngoài của thai nhi và trong âm đạo, hoặc dây rốn ở ngoài âm hộ, thì chắc chắn chẩn đoán được xác nhận.

6, Sa dây rốn có thể gây ra những bệnh gì?

  Hiện tại hay sa dây rốn ít ảnh hưởng đến sản phụ mà chỉ làm tăng sản lượng phẫu thuật. Nó rất có hại cho thai nhi. 

Dây rốn bị sa chèn ép giữa bộ phận sinh dục và khung chậu, tuần hoàn máu của bánh nhau bị tắc nghẽn có thể gây suy thai nặng, nhất là những người lần đầu tiếp xúc, dây rốn bị đè nén nhiều khi dây rốn nằm sau xương mu có thể ra máu. 

Dòng chảy bị chặn hoàn toàn khiến thai nhi tử vong ngay sau đó. Nó cũng có thể gây ra tình trạng thiếu oxy máu và thiếu oxy của thai nhi. 

7, Làm thế nào để ngăn ngừa sa dây rốn?

  1. Khám thai , ước lượng chính xác tỷ lệ lần đầu tiếp xúc với khung chậu, phát hiện và điều chỉnh kịp thời vị trí thai nhi bất thường.

  2. Tăng cường theo dõi quá trình chuyển dạ và lắng nghe chặt chẽ tiếng tim thai, chuẩn bị dụng cụ, thuốc cấp cứu khi sinh thường.

  3. Đối với những sản phụ có thai nổi ngôi đầu, ngôi mông thì nên nằm yên tại giường không thụt tháo, thăm khám nhẹ nhàng để tránh vỡ ối sớm.

  4. Nghe tim thai ngay sau khi vỡ ối, nếu có bất thường và nghi ngờ sa dây rốn thì tiến hành khám âm đạo ngay. Khám hậu môn không thể chẩn đoán rõ ràng, những trường hợp sa nhẹ thường bỏ sót, nếu phát hiện sa dây rốn thì không thể điều trị ngay.

  5. Nắm chắc các chỉ định của vỡ ối nhân tạo để chuyển dạ : cổ tử cung chín, dẹt hết, lộ đỉnh, nối đầu thai nhi. Nếu phải chọc vỡ màng ối nhân tạo thì màng ối phải được chọc vỡ ở vị trí cao để tránh dây rốn lọt ra ngoài khi nước ối chảy ra ngoài.

  6. Nếu đầu thai hơi nổi và phải gây chuyển dạ, loại trừ đầu và xương chậu không cân đối , sau khi chọc thủng màng thai, đẩy đầu thai vào cửa chậu, băng ép bụng, chú ý tư thế nằm, thường xuyên nghe tim thai.

8, Các phương pháp điều trị sa dây rốn là gì?

  (1) Điều trị 

  1. Phát hiện sớm và điều trị đúng là chìa khóa cho sự sống còn của trẻ sơ sinh chu sinh.

  (1) Khi màng thai chưa vỡ và phát hiện thấy sa dây rốn ẩn, sản phụ nằm nghỉ trên giường, kê cao hông, đầu thấp và quan sát kỹ nhịp tim thai. Do tác dụng của trọng lực, khoang chậu trước tiên lộ ra ngoài để giảm bớt sự chèn ép của dây rốn, và sau khi thay đổi tư thế, dây rốn có thể rút ra. 

Nếu đầu lộ ra ngoài, tử cung co hồi tốt, nhịp tim thai bình thường sau lần tiếp xúc đầu tiên vào khung chậu, lỗ tử cung mở rộng dần thì có thể sinh ngả âm đạo . Nếu không, mổ lấy thai an toàn hơn.

  (2) Khi phát hiện thấy dây rốn bị sa sau khi màng ối bị rách, cần tiến hành cấp cứu kịp thời. Theo mức độ giãn nở của miệng tử cung và tình trạng của thai nhi.

  ① Tử cung đã mở xong, tim thai đã có, ít phút nữa là thai ra đời. Nếu đầu và lòng chảo tương xứng, kẹp hoặc máy hút sẽ được thực hiện ngay lập tức để hỗ trợ sinh nở; lực kéo mông được thực hiện cho tư thế ngôi mông; có thể thực hiện đảo ngược trong và kéo cơ mông để hỗ trợ sinh nở. Những người gặp khó khăn với hai cái sau nên được mổ lấy thai ngay lập tức.

  ② Nếu miệng tử cung chưa mở, ước tính trước mắt không thể sinh được thai, cần tiến hành mổ lấy thai càng sớm càng tốt. Khi chuẩn bị phẫu thuật, mông của người mẹ phải nâng cao để ngăn không cho dây rốn sa ra ngoài. 

Tay người khám âm đạo có thể đẩy thai vào âm đạo, đặt các ngón tay giữa thai và thành chậu để dây rốn lọt qua ngón tay tránh chèn ép, theo dõi tình trạng thai theo nhịp sờ vào dây rốn để được hướng dẫn. Cứu cho đến khi đẻ được thai. Dây rốn nên được đưa trở lại âm đạo sau khi khử trùng.

  ③Nếu cổ tử cung chưa giãn hết, nhịp tim thai tốt, không có điều kiện mổ lấy thai, hoặc mẹ và người nhà không đồng ý mổ lấy thai thì nên triệt sản rốn sau đó khâu lại. 

Phương pháp phổ biến là kê cao đầu mông thấp, dùng ống hậu môn có lỗ bên mở rộng, có sẵn một dải kim loại, buộc nhẹ một dải gạc vô trùng vào phần dưới của dây rốn, sau đó luồn một dải kim loại vào lỗ bên của ống hậu môn. 

Sau đó, ống hậu môn được đưa vào đáy của khoang tử cung, và dây rốn đã sa lại được đưa vào khoang tử cung cùng với ống hậu môn, sau đó, dải kim loại được lấy ra trước, sau đó đến ống hậu môn, dây rốn và dải gạc buộc lại được để lại cho thai nhi. 

Nghe kỹ nhịp tim thai và quan sát kỹ xem dây rốn có bị sa trở lại không, để khẳng định đã nhận dây rốn thành công cần nhanh chóng chuyển đến bệnh viện có đủ điều kiện để mổ lấy thai hoặc gây đẻ. Trước khi thực hiện phẫu thuật đặt dây rốn, phần trình bày của thai nhi cần được đẩy lên cao để tránh dây rốn bị chèn ép. 

Do tỷ lệ thành công của phẫu thuật đặt dây rốn không cao nên cần giải thích cho mẹ và gia đình biết trước khi mổ. 

Nếu quá 10 phút mà nhịp tim thai đã biến mất thì khẳng định thai đã chết lưu trong tử cung, người nhà nên thông báo tình hình và cho sinh tự nhiên qua ngả âm đạo, tránh trường hợp rách tầng sinh môn , có thể tiến hành phẫu thuật mổ lấy thai .

  ④ Trên cơ sở điều trị trên, cần chuẩn bị sẵn sàng các biện pháp cấp cứu ngạt sơ sinh .

  2. Mấu chốt nằm ở việc chẩn đoán sớm, và chẩn đoán sớm nằm ở việc quan sát chặt chẽ quá trình chuyển dạ và chú ý theo dõi những thay đổi của nhịp tim thai. Về phương pháp điều trị cụ thể, lúc đó mức độ giãn của cổ tử cung có ý nghĩa quyết định, sau đó là xem xét đến vị trí, độ đẻ, khung chậu của thai nhi.

  (1) Biểu hiện dây rốn: Do màng thai còn nguyên vẹn, dây rốn được bảo vệ bởi màng ối phía trước, dây rốn sẽ không bị chèn ép nhiều trong các cơn co, và sự chèn ép giữa các cơn co có thể giảm bớt. 

Nếu nó là kỳ hạn đầy đủ. Nếu nhịp tim thai tốt thì nên mổ lấy thai. Nếu bạn kiên quyết không được chấp nhận, hãy nâng mông lên, nằm nghiêng ở tư thế nằm nghiêng cạnh dây rốn (Hình 3) và cố gắng đề phòng vỡ ối . Trước khi mở miệng tử cung, không khuyến khích sản phụ đè bụng và không nín thở. 

Sau khi lỗ vòi tử cung được mở hoàn toàn, tùy theo vị trí của dây rốn và chiều cao của lần tiếp xúc đầu tiên, thực hiện lực kéo ngược trong, kéo ngôi mông hoặc kẹp kẹp. Tuy nhiên, cách xử lý này rất nguy hiểm cho thai nhi và ảnh hưởng đến mẹ, cần giải thích nhiều lần cho bệnh nhân và người nhà.

  (2) Sa dây rốn: Khi đã được chẩn đoán, sản phụ nằm nghiêng phải kê cao hông hoặc tư thế ngực – gối ngay lập tức, nếu mức độ sa dây rốn hoặc suy thai nặng thì dùng tay khám nội đẩy đầu thai lên trên cửa chậu để giải áp. Nén dây rốn bởi bộ phận trình bày. 

Dây rốn sa ra khỏi âm hộ được băng lại tạm thời bằng gạc vô trùng, sờ càng ít càng tốt và làm mọi biện pháp điều trị suy thai, đồng thời chuẩn bị điều trị tiếp.

  Sau khi ngôi ngược, nhịp tim thai có cải thiện, nếu miệng tử cung chỉ giãn một phần thì nên mổ lấy thai ngay. Nếu nhịp tim của thai nhi biến mất, hãy đợi sinh con tự nhiên để tránh trường hợp mẹ phải trải qua cuộc phẫu thuật không thể cứu vãn được. Nhưng bạn phải thận trọng và giải thích tình hình cho gia đình.

  Nếu phát hiện thấy dây rốn bị sa, vòi tử cung đã mở hết hoặc gần như mở và đầu thai đã nằm dưới mặt phẳng của đường kính nội mạc thì phải nhanh chóng dùng kẹp hút và kẹp hút đầu thai nhi để đẩy nhanh quá trình đẻ nhưng vẫn phải cẩn thận. 

Hãy vào cuộc, tránh quá vội vàng và hấp tấp kẻo tổn thương thai nhi và mẹ. Nói chung, sa dây rốn và tim thai được phát hiện khi lỗ tử cung đang mở hoặc gần như mở, điều này có lợi hơn trong việc giải cứu thai nhi.

  Phương pháp thu hồi dây rốn: Dây rốn đã lòi ra ngoài âm đạo hoặc vẫn còn trong âm đạo, lỗ tử cung chỉ giãn ra một phần, nếu nghe tim thai tốt thì không nên can thiệp, vì nguồn máu vẫn có thể duy trì dù đã sa tử cung. Nhưng nên nhanh chóng mổ lấy thai. 

Vẫn cần theo dõi chặt chẽ trong quá trình chuẩn bị phẫu thuật. Nếu dây rốn đập chậm hoặc dừng lại chứng tỏ dây rốn bị chèn ép và nguồn cung cấp máu bị tắc nghẽn, ngoài việc kê cao cơ mông cần đưa dây rốn trở lại ngay. Có nhiều phương pháp lấy dây rốn khác nhau, về nguyên tắc là nhanh chóng, dễ dàng và ít đụng chạm hơn, có thể lựa chọn dựa trên kinh nghiệm của phẫu thuật viên. 

Phương pháp thu gọn dây rốn là quấn lỏng dây rốn bị sa bằng gạc vô trùng, dùng tay đẩy phần bị hở lên và đưa dây rốn từ khe hở trở lại khoang tử cung cùng với miếng gạc, sau đó dùng gạc ấn vào lòng tử cung để đẩy đầu thai nhi. Phần dưới, phần trên được dùng băng gạc chặn lại để ngăn dây rốn tuột ra ngoài lần nữa. 

Tuy nhiên, phương pháp này thường được áp dụng cho những trường hợp có miệng tử cung mở rộng hơn, nếu không thì gạc không dễ lấp đầy. Ở tư thế ngôi mông, về lý thuyết, dây rốn nên được treo trên các chi, nhưng thường không dễ thành công và dễ sa ra ngoài trong các cơn co thắt. 

Phương pháp phục hồi dây rốn có trải nghiệm ứng dụng khác nhau do sự khác biệt của thiết bị phục hồi. Bệnh viện Qilu thuộc Đại học Sơn Đông đã sử dụng ống hậu môn để mở rộng lỗ bên và lõi kim loại tích hợp. 

Đặt một dải gạc lên phần rốn đã bị sa, dùng lõi kim loại ấn dải gạc vừa vặn vào lỗ bên của ống hậu môn, sau đó giữ ống hậu môn vào khoang tử cung càng cao càng tốt, và dây rốn sẽ đi lên theo. Sau đó rút lõi kim loại ra, rồi thoát ra ngoài ống hậu môn, để lại dây rốn và dải gạc đã được che phủ phía trên tiếp xúc với thai nhi. 

Phương pháp này có thể được thực hiện khi miệng tử cung mở rộng từ 2 đến 3 cm (Hình 4), và âm thanh tim thai được cải thiện sau khi được điều trị. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng phương pháp thắt dây rốn trở lại có thể thất bại ngay lúc đó hoặc dây rốn lại sa xuống sớm, không nên thực hiện lại thao tác sẽ làm nặng thêm tình trạng suy thai và làm chậm cơ hội cứu hộ. 

Vì vậy, nếu việc chấp nhận thành công và tình trạng suy thai được cải thiện thì nên chọn mổ lấy thai một cách dứt khoát, tốt nhất là không nên di chuyển, nếu cần thì dùng tay hoặc cuộn băng lấp kín cổ tử cung, tức là tiến hành vào phòng sinh. 

Nếu tiếng tim thai vẫn không tốt, thậm chí biến mất sau khi phục hồi, hoặc những trường hợp không thể phục hồi thì cách duy nhất để đảm bảo an toàn cho người mẹ là ngăn ngừa nhiễm trùng hậu sản.

  Mặc dù nguy cơ chèn ép dây rốn khi sinh ngôi mông ít hơn, nhưng nguyên tắc điều trị vẫn giống như tư thế nằm đầu. Khi thấy nhịp tim thai tốt, lỗ tử cung giãn ra một phần thì mổ lấy thai, nếu lỗ vòi tử cung hở thì tiến hành kéo hông, nếu nhịp tim thai không tốt thì chờ sinh ngả âm đạo, nhưng vẫn chú ý theo dõi sự thay đổi của nhịp tim thai. Đã mở tử cung và thực hiện động tác kéo hông sớm.

  Trong trường hợp sinh đôi, sau khi sinh thai thứ nhất, dây rốn của thai nhi thứ hai sa ra, theo biểu hiện của thai nhi, cần tiến hành ngay phẫu thuật lộn trong (đầu nằm ở vị trí cao) hoặc kéo hông. 

Ở nông thôn hoặc nhà sản phụ không chuyển viện được mà mổ lấy thai không điều kiện, đối với những trường hợp nghe tim thai tốt thì một mặt cho ngôi mông, mặt khác mổ tùy theo tình trạng hở của tử cung. 

Nếu không sớm có hiện tượng lệch đầu – chậu sau khi vỡ màng ối , và lỗ tử cung gần như giãn hoàn toàn thì phẫu thuật nội soi vẫn là biện pháp giải cứu thai nhi nhưng phải có kinh nghiệm nhất định. 

Sau khi hoàn thành việc trả nợ hoặc đánh lái mà lỗ tử cung chưa mở hết thì không thể kéo được ngay, trước khi chờ lỗ tử cung mở ra, bạn nên thường xuyên nghe tim thai, sau đó mới xử lý phù hợp.

  Nếu thai đã chết, hãy chờ sinh tự nhiên. Nếu có hẹp khung chậu, đầu và xương chậu không cân đối, biểu hiện bất thường, khó sinh thì có thể dùng phương pháp phá thai.

  Sau khi sinh phải kiểm tra tổn thương ống sinh, khâu vết thương kịp thời, cho uống thuốc chống nhiễm trùng.

  (2) Bản thân tiên lượng sa dây rốn không ảnh hưởng đến sản phụ. Rủi ro sản phụ chủ yếu do các yếu tố gây sa, và do tình thế cấp thiết, thai phải được sinh nhanh, sản lượng phẫu thuật tăng lên đáng kể, và chấn thương cho mẹ như rách cổ tử cung và âm đạo. 

Và khả năng lây nhiễm cũng theo đó mà tăng lên. Đối với thai nhi thì lại khác, tính mạng thai nhi bị đe dọa nghiêm trọng, tỷ lệ tử vong cực kỳ cao, lên tới 40%, theo báo cáo nước ngoài là 9% đến 49%. 

Tiên lượng rõ ràng là liên quan đến thời gian từ khi sa đến khi sinh. Tiên lượng tốt hơn nếu thời gian từ lúc nghe tim thai đến khi đẻ được thai trong vòng 20 phút. Nếu không, tỷ lệ tử vong cao, những người sống sót cũng có thể bị di chứng thần kinh.

9, Chế độ ăn kiêng khi sa dây rốn

  1. Lưu ý về chế độ ăn kiêng khi sa dây rốn:

1) Protein: Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc thiếu protein ở phụ nữ mang thai sẽ không chỉ gây sẩy thai mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của các tế bào não của thai nhi và gây ra các rối loạn phát triển ở trẻ sơ sinh. 

Cung cấp không đủ protein cũng có thể gây ra thiếu máu thai kỳ , phù nề dinh dưỡng và hội chứng tăng huyết áp do thai nghén . Phụ nữ mang thai phải tiêu thụ đủ protein để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của chính mình và nhu cầu tăng trưởng và phát triển bình thường của thai nhi. 

Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo phụ nữ nên tăng ít nhất 9 gam dinh dưỡng protein chất lượng cao mỗi ngày trong nửa sau của thai kỳ, tương đương với 300 mg sữa, nếu thực phẩm có nguồn gốc thực vật là chính thì cần bổ sung 15 gam protein, tương đương với 40 gam đậu nành và đậu phụ khô. 75 gam.

Xem thêm:

0 0 votes
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments

Khoa Y Dược Hà Nội tuyển sinh chính quy

Bài viết mới nhất

0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x