Cổng Thông Tin Đại Học, Cao Đẳng Lớn Nhất Việt Nam

Bệnh sán máng – Mức độ nguy hiểm ra sao?

1, Bệnh sán máng là bệnh gì?

Bệnh sán máng là một bệnh ký sinh trùng mãn tính do sán máng thuộc giống Schistosomiasis gây ra, chủ yếu phổ biến ở 73 quốc gia ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh, với khoảng 200 triệu bệnh nhân. 

Có hai loại bệnh sán máng chính, một là bệnh sán máng đường ruột, chủ yếu do Schistosoma mansoni và Schistosoma japonicum gây ra; loại còn lại là bệnh sán máng tiết niệu do Schistosoma haematobium gây ra. 

Dịch bệnh chủ yếu ở nước ta là bệnh sán máng japonica

bệnh sán máng
Giai đoạn sinh trưởng của sán máng

2, Bệnh sán máng gây ra như thế nào?

Nguồn lây nhiễm

Phân của bệnh nhân Schistosoma japonicum có chứa trứng sống, là nguồn lây nhiễm chính của bệnh này.

Đường lây

Nhiễm chủ yếu qua tiếp xúc với da, niêm mạc, nước nhiễm bệnh.

Tính cảm

Nhiễm “ Con người và động vật có xương sống nói chung rất dễ bị bệnh sán máng.

bệnh sán máng
Người là đối tượng rất dễ nhiễm sán máng

3, Các triệu chứng của bệnh sán máng là gì?

Các triệu chứng thường gặp: sốt, phân giống kiết lỵ, gan lách to, tiêu chảy, đau ngực, giãn tĩnh mạch bụng, ho kèm đau ngực, ho ra máu, chứng to gan to, đau bụng, cổ trướng

Ở giai đoạn xâm lấn

Bệnh nhân có thể bị ho , đau tức ngực và thỉnh thoảng có đờm đỏ ngầu .

Giai đoạn cấp tính

Thường có các đặc điểm lâm sàng sau:

(1) Sốt là triệu chứng chính của giai đoạn này, mức độ sốt, thời gian và loại sốt thay đổi tùy theo mức độ nhiễm trùng.

(2) Các triệu chứng tiêu hóa thường là phân giống như bệnh lỵ , có thể có máu và chất nhầy.

(3) Gan lách to

(4) Ho kèm theo triệu chứng phổi khá phổ biến, với các triệu chứng như đau ngực và khạc ra máu.

bệnh sán máng
Sốt là một trong những biểu hiện bạn đã bị nhiễm bệnh

Giai đoạn mãn tính

Thường phát triển thành bệnh mãn tính do giai đoạn cấp tính không được phát hiện, điều trị không kịp thời hoặc dứt điểm, hoặc nhiễm trùng lặp đi lặp lại với số lượng ít. Thời kỳ này thường kéo dài từ 10 đến 20 năm. Do quá trình dài của nó, mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng có thể khác nhau rất nhiều.

Bệnh nhân ở giai đoạn cuối rất gầy , cổ trướng , lá lách to và các triệu chứng nặng ở giai đoạn cuối như tĩnh mạch bụng căng phồng .

4, Các mục kiểm tra bệnh sán máng là gì?

Các hạng mục kiểm tra: Xét nghiệm thẩm thấu trong da Schistosoma, Xét nghiệm ngưng kết mủ Schistosoma, Xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzym tại chỗ Schistosoma, Xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzym Schistosoma, 

Xét nghiệm ngưng kết máu gián tiếp Schistosoma, xét nghiệm phân, soi ruột kết, Xét nghiệm kết tủa trứng vòng Schistosoma, Kháng thể Schistosoma, huyết thanh Immunoglobulin (Ig)

Kiểm tra mầm bệnh kiểm

Tra trứng hoặc trứng cá nở và sinh thiết niêm mạc trực tràng từ phân.

(1) Phương pháp soi trực tiếp thường có thể phát hiện trứng sán trong phân của bệnh nhân ở những vùng bị nhiễm nặng hoặc trong chất nhầy và máu của bệnh nhân mắc bệnh sán máng cấp tính. 

Phương pháp này đơn giản nhưng tỷ lệ phát hiện trứng thấp.

(2) Phương pháp ấp trứng bằng magicidia có thể làm tăng tỷ lệ phát hiện dương tính.

(3) Phương pháp định lượng trong suốt được sử dụng để đếm số trứng sán.

(4) Sinh thiết niêm mạc trực tràng. Mô thành ruột của bệnh nhân mắc bệnh sán máng mãn tính và tiến triển dày lên và tắc vòi trứng nên không dễ tìm thấy trứng trong phân. Có thể dùng soi trực tràng.

Kiểm tra miễn dịch

(1) Xét nghiệm trong da (IDT) Tỷ lệ trùng hợp của xét nghiệm trong da nói chung và xét nghiệm phân của trứng giun là khoảng 90%, nhưng có thể xảy ra phản ứng dương tính giả hoặc âm tính giả, có thể gây ra tỷ lệ mắc bệnh cao hơn với các loại sán lá khác. 

Phản ứng chéo; và bệnh nhân vẫn có thể dương tính trong nhiều năm sau khi lành. Phương pháp này đơn giản, nhanh chóng và thường được sử dụng để sàng lọc ngay tại chỗ các trường hợp khả nghi.

(2) Phát hiện kháng thể đặc hiệu kháng thể gồm IgM, IgG, IgE,… trong huyết thanh của người bệnh đã hút máu, nếu đối tượng chưa được điều trị mầm bệnh mà kháng thể đặc hiệu dương tính thì có ý nghĩa rất lớn đối với chẩn đoán; 

Điều trị, kháng thể đặc hiệu dương tính thì chưa chắc đối tượng vẫn còn ký sinh trùng trưởng thành, vì sau khi khỏi bệnh, kháng thể đặc hiệu vẫn còn duy trì được trong cơ thể rất lâu.

(3) Phát hiện các kháng nguyên lưu hành Do các kháng thể vẫn còn trong vật chủ trong một thời gian dài sau khi điều trị, kết quả dương tính thường không thể phân biệt giữa nhiễm trùng hiện tại và nhiễm trùng trước đó, và không dễ đánh giá hiệu quả. 

Kháng nguyên tuần hoàn là các hạt đại phân tử do côn trùng sống thải ra vật chủ, chủ yếu do côn trùng thải ra, tiết ra hoặc tróc ra. Chúng có đặc tính kháng nguyên và có thể phát hiện bằng xét nghiệm miễn dịch huyết thanh. 

Về mặt lý thuyết, phát hiện CAg có những lợi thế riêng, nó không chỉ có thể phản ánh tình trạng nhiễm trùng đang hoạt động mà còn đánh giá tác dụng chữa bệnh và ước tính các loài côn trùng.

0 0 vote
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments

Khoa Y Dược Hà Nội tuyển sinh chính quy & liên thông vb2 các ngành Y Dược

FULL COMBO CÁC KHÓA HỌC CHỈ 200K

Du học & XKLD Hướng tới 1 tương lai phát triển hơn

Top 15 phim anime hay nhất mọi thời đại không đọc hơi phí

Bài viết mới nhất

0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x